GIA PHẢ, GHI NHẬN PHÁT TRIỂN VÀ GIÁO DỤC

Gia phả là tập sách ghi những biến chuyển của một gia đình. Một tộc họ được trường tồn qua hàng nhiều trăm năm sẽ có nhièu chi nhánh họ. Bởi vì mỗi thế hệ xưa. Mỗi đời sinh nhiều con, mỗi người con lập ra một Chi nhánh khi nối tiếp sinh ra nhiều người nữa.

Một Tộc họ đại thọ, đại thịnh càng về lâu về dài càng có nhiều gia đình con cháu. Trải qua thời gian dài con cháu vì quá đông, không hề biết nhau, chỉ có thể nhận nhau khi đem nguồn gốc ra kể, mà vật chứng có giá trị nhất vẫn là Tộc phả và Gia phả.

Tộc phả xác nhận nguồn gốc Họ, về người mở đầu Tộc họ (Thuỷ Tổ). Còn Gia phả dẫn chứng về sự khai sáng Chi họ hoặc là về chuyện chuyển đổi họ (một đoạn sau sẽ đề cập tới) hay là xác minh tính cách liên hệ quan trọng đến bậc nào giữa Chi nhánh họ với Tộc họ gốc.

Còn có sự khác biệt về Tộc phả và Gia phả:

  1. Tộc phả là chứng cớ lịch sự lâu đời, về căn nguyên cả một họ. Quyển sách này là căn bản của gia lễ, vì chỉ rõ mọi vấn đề cần thiết liên quan  việc thờ phụng tổ tiên như là:

a/ – Nguyên quán xuất xứ của Tộc họ.

b/ –  Đình miếu thờ Thuỷ tổ họ nơi đâu

c/ – Các ngày giỗ kỵ của Tổ và các tiền nhân của họ.

d/ – Lễ nghi cần phải theo đã được ấn định lưu truyền

e/ – Đôi khi cũng có tập quán, phong cách riêng biệt phải giữ gìn tuân thủ mà con cháu về sau không được phép khinh xuất ( Thí dụ : chi họ Hmok Pai của người thiểu số Êđê  trên cao nguyên Đắc Lắc – Buôn Ma Thuột không được ăn thịt thỏ. Vì đây là chi họ nhà Thỏ theo truyền thuyết. Một vài họ người kinh có một tập quán xấu, con cháu về sau làm ăn khá, có danh vọng, giàu sang mà không thể bỏ được, như là phải ăn xin một ngày trong năm khi có giỗ kỵ chỉ vì xưa kia, Thuỷ tổ họ là một kẻ ăn mày hoặc là phải đi cắp vạt một món vật gì, bởi Thuỷ tổ họ là một kẻ trộm vặt. Tuy nhiên, nững tục lệ xấu này lần lần được bỏ vì nhận thức của con người ngày càng tiến bộ hơn, đời sống khái hoá của con người cũng nhanh hơn.

2. Gia phả là một cuốn sách biên ghi có tích cách “mới” hơn Tộc phả, thường có nội dung đầy đủ, rõ ràng chi tiết về từng cá nhân một số người:

a/ Ngày sinh, tử, tên Huý, hiệu, Thuỵ…

b/ Chức tước Phẩm trật, Quan hàm(Nếu có) hay công đức với xã hội.

c/ Di Ngôn (Những lời dặn dò, trăn trối)

d/ Những lời gia huấn.

e/ Những diên biến trong phút lâm chung và tình hình tang lễ.

f/ Những ghi nhận về cá tính, đời sống, phẩm hạnh…

g/ Một số đời gần gũi mà các thế hệ sau có thể biết và từng chung sống, thấy mặt cho nên có lòng tin, yêu kính nồng nhiệt hơn…

Bởi có tính cách gia huấn, Gia phả trở nên thực dụng thiết yếu cho đời sống ngày nay hơn Tộc phả, khi Tộc phả thường chỉ có liên quan tới gia lễ lại quá lâu đời.

Nói khác đi, Gia phả có tính chất “thiết thực và gần gũi”  với các thế hệ đương thời hơn Tộc phả và là “văn bản” bổ sung cho Tộc phả, bởi Tộc phả chứa nội dung bao quát (có nhiều thế hệ xưa, cách xa) nhiều chi họ, còn thiếu nhiều vấn đề mà người trong Tộc họ mà trước kia không thể ghi hết được.

Vì mang nhiều tính chất gia huấn. Gia phả thường được áp dụng thường xuyên ở mỗi gia đinh trong khi Tộc phả phải luôn được giữ gìn ở Tổ Đình, Tổ Miếu hay nơi nhà thờ Tổ Tông; còn tuỳ theo Tộc họ lớn nhỏ và có phải là vọng Tộc lâu đời hay không. Ở trên là sự mô tả tính chất của hai loại phả còn tồn tại và người trong họ và gia đình có nhiệm vụ nối tiếp giữ gìn, biên ghi

Các thẻ liên quan: Gia phả, Giáo dục, Phả Ký, Tộc Phả