Nghĩa đại cát táng và hung táng của xã  

            Chính quyền thời xưa cũng như thời nay chỉ căn cứ vào thực tế sô dân để chia địa giới hành chính, không tính đến số mồ mả, càng qua nhiều đời thì số mồ mả, tức là số người đã chết và sẽ chết càng tăng. Dân tộc ta chưa cho phong tục hoả táng, đất đai mấy nghìn năm của từng xã cũng không rông thêm một tất nào, thế mà nhân dân trong toàn xã bao gồm cả người đã chết, người đang sống và người sẽ sinh cứ mỗi ngày một tăng. Giải quyết nghịch lý đó ra sao? Người xưa giải thích: “con người sinh ra từ đất lại trở về với đất”. Phong tục chỉ có giải pháp hạn chế nghịch lý trên: Hung táng (mới chết) xây mộ to, đết khi cát táng, phần thịt đã hoại chỉ còn xương bỏ vào tiểu, xây mộ nhỏ, giảm bớt diện tích đất. đất đai ngày nay thuộc sở hữu toàn dân, hội đồng nhân dân xã căn cứ theo canh quan từng xã, tham chiếu các điều khoản bảo vệ môi truòng mà quyết định khu nghĩa trang của xã phân biệt khu vực hung táng, khu vực táng.

            Đất dành cho các họ xây nghĩa trang

            Trên đây là vấn đề nghĩa địa chung của xã, còn vấn đề nghĩa trang từng dòng họ trong xã, cũng do hội đồng nhân dân xã quyết định phân phối đất. Vậy căn cứ theo chỉ tiêu nào đẻ phân phối?

            Đối với các xã ở vùng đồi núi, đất sườn núi còn rông tương dối dễ xử lý, nhưng các xã vùng đồng bằng ruộng trũng nhiều, bãi cỏ để chăn thả trâu bò cũng hiếm, vì vậy phân phối đất cho các họ lập nghĩa trang từng dòng họ càng là vấn đề nan giải, có xã phải thuê hoặc nhờ đất xã lân cận để làm nghĩa địa của xã. Vì vậy, nghĩa trang từng họ có điều kiện xây dựng được hay không, quy mô rộng hay hẹp còn phải tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể.

Phân bố vị trí trong nghĩa trang của họ

            Nếu là nghĩa trang sẵn có của họ từ xưa, nay con cháu đóng góp để sửa chữa, tôn tạo cho thêm phần khang trang, thì nên cố gắng để nguyên vị trí các ngôi mộ:”mồ yên, mả đẹp đã xong rồi, cất bốc làm gì nữa lôi thôi”.

            Nếu là nghĩa trang mới lập thì cứ theo thế thứ “âm dương cũng một lẽ”. cha trên con dưới, anh trước em sau, nam tả nữ hữu, ông bà nằm sóng đôi. Một ông hai bà thì đặt ông ở giữa, hai bà hai bên. Đại thể là, nghĩa trang của họ được phân bố theo hình thang: trên hết là mộ thuỷ tổ ông thuỷ tổ bà, lần lượt đến tiên tổ qua các đời càng cao càng ít, đời cần càng đông, phân bố làm sao dể cho con cháu nằm dưới chân ông bà cha mẹ. những người mới mất đang trong vòng tang (hung táng) chưa được đưa vào nghĩa trang chung của họ. Những phụ vị, thương vong (người chết non), chỉ chôn hai bên hoặc có miếu riêng, không đuowcj chôn voà dòng chính. Đã đặt vào nghĩa trang chung của họ thì phải theo hướng chung của nghĩa trang, không được đặt ngang, đặt trên hay ngược chiều với mộ thuỷ tổ. những tiểu chi đã có sẵn nghĩa trang của tiểu chi, thì nên đẻ nguyên mà bồi trúc, không nên gò bó đừa vào nghĩa trang chung, muốn đưa ngôi mộ nào vào nghĩa trang chũng cũng tuỳ tâm, họ không ngăn cản, hạn chế, nhưng quy cách từng ngôi mộ thì phải tuân thủ theo quy cách chung của họ kể cả mẫu ghi mộ chí.

            Thông thường, nghĩa trang các dòng họ từ cổng chính đi voa fcos tắc môn, có tấm bia to, có bàn thờ Thổ thần Long Vương (thần bảo vệ, chăm lo lăng mộ), nếu con cháu là con chiên hay tín đồ phật giáo, đạo giáo thì tuân theo lễ nghi giáo phái.

            Trong nội dung bia chung của họ ghi rõ nguồn gốc xa xưa thuỷ tổ từ thời nào, ở đâu đến. Qua các đời ghi tên hiệu phần mộ các vị hiển đạt, kể cả các vị có lăng riêng không quy tụ vào nghĩa trang chung, ghi danh sách các liệt sĩ trong họ (phần lớn không có mộ tại nghĩa trang chung), ghi cả nhưng trường hợp chiêu hồn nạp táng, hoặc được phong thần thờ ở chỗ khác, bị lạc mộ…, ngày xây nghĩa trang, ngày dựng bia, ngoài ra có họ còn có bia ghi tên tuổi các vị cao niên (khi mất thọ trên 70)

Các thẻ liên quan: gia, giaphadaiviet