LONG MẠCH” Ở VÙNG ĐỒI NÚI THƯỜNG DỄ NHẬN BIẾT

Long mạch ở miền đồi núi thường dễ nhận biết vì chỗ nào có núi cao chạy dài theo từng dãy trùng trùng điệp điệp là chỗ ấy có long mạch, vùng đồi núi cao phân biệt “Cán long” và “Chi long”. Cán long là chỗ phát tích đầu tiên của long (tổ long), nó là cái long lớn nhất trên quả địa cầu này, ví như các dãy ở nước ta đều có gốc xuất phát từ miền Tây Tạng ở Trung Quốc. Trong kinh dịch quẻ Càn ở về phía núi Tây Bắc, nó là đầu mối của các loại long mạch thuộc vùng đồi núi, Càn có nghĩa là trời và tượng của nó là rồng long mạch là đường đi, đường vận chuyển của rồng, là long mạch chính của vũ trụ.

Chi long của vùng đồi núi chính là những nhánh núi, dãy núi được phân nhánh riêng biệt từ cán long giống như dãy núi Trường Sơn ở nước ta, hoặc dãy núi thuộc miền Đông Bắc thuộc quẻ Cấn, hoặc các dãy núi thuộc miền Tây Nam thuộc quẻ Khôn của nước ta. Dù là cán long hay chi long thì đồi và núi phải hữu tình, nghĩa là đồi núi phải có thế uốn lượn, ôm ấp nhấp nhô trùng điệp thì mới có long mạch quý.

Tìm long mạch ở vùng đồi núi trước hết phải phân biệt được các hình thể đột khởi của long mà cụ thể là hình thể của các đỉnh núi, đồi mà sách địa lý gọi là “Tinh phong”, các tinh phong này có các dạng ngũ tinh và cửu tinh.

Ngũ tinh:

Ngũ tinh là 5 dạng đỉnh núi có hình thể theo 5 dạng ngũ hành của các ngôi sao tương ứng ở bầu trời gồm:

Kim tinh: là đỉnh núi có đầu tròn, chân núi rộng và có hình như cái nồi úp.

Mộc tỉnh: đỉnh núi tròn mà thân núi thì thẳng và cao.

Thủy tinh: đỉnh núi bằng và nhấp nhô uốn lượn như sóng biển.

Hỏa tinh: đỉnh núi nhọn, chân núi rộng như hình tam giác.

Thổ tinh: đỉnh núi bằng phẳng, có hình vuông.

Các nhà địa lý xưa kia đã phân ra 5 dạng đỉnh núi như hình vẽ trên để tương ứng với 5 hành có trong vũ trụ. Trong khoảng trời đất bao la rộng lớn nhưng về mặt vị trí và phương vị của 5 hành thì luôn cố định, cứ ứng với môi phương thì có 1 ngũ hành tương ứng. Phương Đông hành mộc, phương Nam hành hỏa, phương Tây hành kim, phương Bắc hành thủy và hành thổ ở trung cung. Tuy nhiên đồi núi phân bố ở mỗi phương thì rất đa dạng vì đỉnh núi có đủ mọi loại hình đan xen nhau, vì thế phải phân biệt loại nào thì vượng, loại nào thì suy. Thí dụ nếu ở phương Tây mà núi có đỉnh nhọn hình hỏa thì khẳng định rằng long mạch ở đó là không tốt vì phương Tây thuộc hành Kim mà đỉnh núi hình hỏa thì kim khắc hỏa, ngược lại đỉnh núi mà có hình kim hay thủy thì long mạch rất tốt vì 2 kim đồng hành nên khí mạch vượng và kim sinh thủy nên núi ấy có khí mạch rất mạnh. Nếu là núi có đỉnh hình thổ hay hình mộc thì khí mạch bạc nhược. Các phương vị khác cũng dựa vào hình thể ngũ hành của đỉnh núi để so sánh với ngũ hành của phương vị để quyết đoán tính chất của long mạch tốt hay xấu. Vùng đồng bằng mà đột khởi núi cao và đỉnh núi có hình thổ tinh hoặc hỏa tinh thì long mạch ở đó rất tốt và sẽ sinh ra những người tài năng và sống lâu vì vùng đồng bằng thì hành thổ Vượng nên núi có đỉnh hình thổ thì sẽ có thổ đồng hành, tức thổ quá vượng, thổ vượng thì sinh người phúc hậu và sống lâu, ngược lại đỉnh núi có hình hỏa tinh thì hỏa sẽ sinh thổ và đất ấy sẽ xuất hiện nhân tài về vũ lực; tức là phát về võ tướng. Nếu núi ở đông bằng mà đỉnh của nó có hình thủy tinh thì thủy khắc thổ và long mạch sẽ suy kiệt nên sinh người nghèo nàn. Nếu núi ở đó mà đỉnh có hình kim tinh thì thổ sẽ sinh kim nên khí chất long mạch rất thịnh và sinh
người tài giỏi. Tóm lại phải quan sát hình thể của các dạng đỉnh núi để phân biệt nó thuộc hành gì và ứng với ngũ hành của phương nào để rồi dùng quy tắc sinh khắc chế hóa của ngũ hành mà quyết định tính chất của long mạch.

Cửu tinh:

Tinh nghĩa là sao, cửu nghĩa là chín (9). Vậy cửu tinh là 9 ngôi sao trên bầu trời thuộc chòm sao bắc đẩu. Sao bắc đẩu còn được gọi là sao bắc thần. Khi bóng của sao bắc đẩu chiếu xuống địa chi (12 con giáp) nào trên mặt đất thì địa chị đó được gọi là cung tử vi. Chòm sao bắc đẩu có 9 ngôi sao đi kèm với nó nên gọi là cửu tinh, sao bắc đầu không bao giờ thay đổi vị trí và phương vị, nó lúc nào cũng ở chính Bắc. Sao bắc đầu ở giữa để điều hành sự chuyển động của 28 vì sao quanh vòm trời theo các phương Bắc- Nam – Đông – Tây. 28 vì sao chầu vào quanh vòm trời người ta gọi là nhị thập bát tú tinh. Sao bắc đầu có tầm quan trọng và vị trí đặc biệt của tất cả các nhà thiên văn Ai Cập và Trung Quốc, người ta dùng nó để định vị bầu trời theo các phương vị khác nhau. Sao bắc đầu là nơi tụ hội sinh khí lớn nhất của vũ trụ nó là “Tổ long” của trời, đi kèm với nó còn có 9
ngôi sao khác thì gọi là 9 long tinh đó là: Tham Lang (mộc), Lộc Tồn (thổ), Văn Khúc (thủy), Liêm Trinh (hỏa), Vũ Khúc (kim), Phá Quân (kim), Tả Phù – Hữu Bật và Cự Môn (thủy). Hai sao Tả Phù – Hữu Bật thì ngũ hành của nó tùy thuộc vào vị trí nó ngự trị. Nhị thập bát tú đóng vai trò là SA – THỦY (sa thủy là vùng nước, ao, hồ để bảo vệ khí mạch khi tụ lại).

Trong cửu tinh thì người ta chỉ dùng Tham Lang Cự Môn – Vũ Khúc – Tả Phù – Hữu Bật. Còn các sao khác thì ít dùng. Cửu tinh là các sao phát ra khí ngũ hành ở trời nhưng nơi hội tụ là ở mặt đất, các nhà địa lý đã mô phỏng hình dạng của cửu tinh như sau:

Khi sao bắc đầu chiếu vào cung Cẩn (Đông Bắc) thì gọi là sao Thiên Trị. Khi chiếu vào cung Tốn(Đông Nam) thì gọi là sao Thái Vi. Khi chiếu vào cung Khôn (Tây Nam) thì gọi là sao Thiếu Vi. Khi chiếu vào Càn (Tây Bắc) thì gọi là sao Tử Vi .

Tóm lại nguồn sinh khí (tổ long) lớn nhất ở trời là ở sao Bắc Đẩu, khi nó chiếu xuống 4 vị trí Càn – Tổn – Khôn – Chấn thì có tên gọi là Tử Vi – Thái Vi – Thiếu Vi – Thiên Trị. Đây chính là 4 vị trí tụ hội sinh khí của long mạch là lớn nhất trên mặt quả địa cầu; đó là những vùng đất quý hiếm thường dùng để lập quốc, lập đô thị.

Các thẻ liên quan: giaphadaiviet