Người xưa cho rằng Từ Đường và Phần Mộ là nơi quy tụ linh khí quan trọng nhất của dòng họ. Đặc biệt là trong các ngày giỗ, tết… thì từ đường còn là nơi tụ hội con cháu trong dòng họ,… Khác với Đền, Chùa, Miếu, Điện thường được xây trong thôn xóm, để cho con cháu qua lại thuận tiện quanh năm hương khói.         

PHẦN MỘ

Các dân tộc trên thế giới qua nhiều thời đại có nhiều táng thức khác nhau: Hoả táng, thuỷ táng, thổ táng….

Hoả táng là một thức tiến bộ trong thế giới hiện đại: Ngày xưa, ở nước ta, chỉ có các nhà sư được hoả táng theo đạo Phật từ Ấn Độ truyền sang. Thời này, ở thủ đô và các thành phổ lớn đã có đài “Hoá thân hoàn vũ”. Táng thức này đang được khuyến kích cổ vũ, nhưng chưa được phổ biến rộng trong dân chúng, bởi lẽ ở nước ta miền xuôi cũng như miền ngược, phong tục cổ truyền là thổ táng.

          Thoả mãm thế giới tâm linh

          Con người đang sống, đang hoạt động tự nhiên chết, thân nhân vô cùng thương tiếc, cảm thấy hẫng hụt trống trải, họ không thể tin rằng chết là hết, hết tất cả, hết mãi mãi. Tâm lý chung của con người vẫn lưu luyến, vẫn mong muốn có cái gì còn lại không thể mất hết được. vì vậy, hài cốt tiền nhân trở thành vật linh thiêng quý trọng. muốn bảo vệ được hài cốt lâu dài người xưa theo thuật phong thuỷ, tức là tìm đất có hướng gió và mạch nước hai hoà thích hợp, cốt ngưng tụ được phần sinh khí còn lại mà khi sống đã kết tinh được ở trong xương. Giữa hài cốt của người đã khuất và cơ thể tâm hồn người đang sống, vốn xưa cùng xuất phát nảy sinh từ một tế bào, nên có mối huyết mạch tương quan.

Tuy vậy thổ táng thường gây ô nhiễm đến môi trường xung quanh, nhất là khi khu nghĩa trang ở gần khu dân cư. Vì vậy hiện nay người ta có xu hướng khuyến khích chọn hình thức hoả táng, nhất là với người mất do bệnh nặng.

Thuật phong thuỷ với mồ mả

Hình thế xung quanh mộ: Đông Thanh Long, Tây Bạch Hổ, Nam Chu Tước, Bắc Huyền Vũ. Các loại long mạch kỵ chôn là núi trẻ, nút đứt, núi đơn,…. Về hình thế, “Táng thư” ghi rất rõ: thế như rắn bò, hại nước vong gia; thế như mâu, có chuyện ngục hình; thế nước chảy, người thành quỷ….

Trong tìm huyệt, cũng kỵ chôn vào “sừng rồng, mắt rồng, môi rồng, lưng rồng, hông rồng, cổ rồng, móng rồng,….” Vì sẽ mắc “huyết bệnh” như gãy tay, quai bị,……

Mộ tổ các họ đại tôn và tiểu chi

Ở đây, bàn về các vấn đề thuộc phạm vi của Gia Phả Dòng Tộc nên các vấn đề về mộ tư gia, mộ liệt sĩ chúng tôi không đưa ra đây. Và các vấn đề bàn đến là:

Mộ Thuỷ Tổ

Mộ Thuỷ Tổ các họ, nói chúng đều được xây dựng nghiêm trang uy nghi, bề thế, thường đặt ở chỗ cao ráo, hình thể tốt đẹp, nếu có nghĩa trang riêng của dòng họ thì mộ Thuỷ Tổ Ông, Thuỷ Tổ Bà song táng ở vị trí cao nhất.

Mộ Tiên Tổ các đời

 An táng tại nghĩa trang chung của xã, nghĩa trang riêng của dòng họ tiểu chi, nghĩa trang của họ đại tôn, hay phân tán tại một khoảng đồi, một vườn đất tư nhân.

Trường hợp an táng tại nghĩa trang của họ đã có từ xưa thì để nguyên vị trị, nghĩa trang mới xây, mà mộ mới dời từ chỗ khác khác đến thì phải đặt theo thứ bậc trên dưới tuỳ theo số đời và hàng ngang theo thứ tự chi 1 -2…

Trường hợp mộ phân tán, tức là chôn cất trong vườn đất của gia đình mình, chi họ mình: Xưa kia, theo chế độ tư hữu ruộng đất, hiếm có trường hợp chôn cất trong vườn đất người khác, chẳng qua vì ruộng đất mua đi bán lại sang tay nhiều chủ nên mới có tình trạng mộ tổ chi họ này chôn trong vườn đất người họ khác (người ta chỉ bán đất chứ không bán diện tích đã có mộ đặt sẵn).

thông tin tham khảo nguồn sách “Gia phả dòng tộc” của Gia Cát – Minh Lâm biên soạn

Các thẻ liên quan: giaphadaiviet, nhà thờ, phần mộ, phanmemgiapha, Từ đương