Từ phong tục tập quán xa xưa người Việt Nam sống với tâm thức: Con người ta sinh ra, lớn lên, dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, tạo lập công danh sự nghiệp… cuối cùng cũng theo quy luật sinh – lão – bệnh – tử. Do xem và chấp nhận cái chết là quy luật nên người Việt Nam đón nhận cái chết trong tinh thần chủ động, thanh thản như sắm trước quan tài (gọi là Thọ), xây dựng sanh phần (gọi là Kim tỉnh) cho chính bản thân khi còn sống. Nhân sinh quan người Việt xưa nay cũng cho là “sống ở, thác về”, xem cuộc sống trên mặt đất chỉ là cõi trọ tạm bợ, và chết không phải là hết, mà về cõi vĩnh cữu. Do vậy “người chết cần được “mồ yên mả đẹp”, việc “động mồ động mả” rất kiêng cử ví có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp của con cháu nhiều đời. Người Việt còn sống theo đạo lý: “nghĩa tử là nghĩa tận”, tức là bao nhiêu hờn oán đều xóa bỏ khi đối tượng đã chết, vì chết là dứt nợ trần gian. Không ai truy cứu người chết bao giờ. Bởi vậy, theo phong tục xưa trong tang chế có rất nhiều nghi lễ, văn khấn để tiễn đưa vong hồn người đã khuất sang thế giới bên kia được trọn vẹn, chu đáo, thể hiện lòng thành, làm trọn đạo hiếu.

LỄ THIẾT LINH (khấn sau khi lập bàn thờ tang, đặt linh vị)

Than ôi! Gió thổi nhà Thung (nếu khóc cha) hoặc Huyên (nếu khóc mẹ).

Mây che núi Hỗ (nếu khóc cha) hoặc núi Dĩ (nếu khóc mẹ)

Dung mạo một mai vắng vẻ, bão xô cây, nghĩ lại ngậm ngùi thay;

Âm dương đôi ngả xa vời, mây phủ núi, trông càng đau đớn nhẽ!

Sương bay chớp nhoáng, bạch vân nghi ngút, cõi phù sinh;

Nến đỏ hương thơm, án tọa hắt hiu đồ sự tử.

Vài tuần nghi tiết, mong anh hồn thấu khúc tình văn;

Tấc dạ bi hoài, trông linh vị, tuôn dòng ai lệ!

Ôi! Thương ôi!

LỄ HỒI LINH (Khấn khi rước ảnh/ linh vị từ mộ về)

Bài 1:

Than ôi! Xót nghĩ phụ thân (hoặc mẫu thân)

 Thân thi táng tất, hồn phách đã yên.

 Xa nơi trần giới, về chốn cửu nguyên.

 Nay hồi linh, phụng nghênh thần chủ, rước về linh điện

 Để con cháu sớm hôm phụng sự

 Tới hạn kỳ làm lễ cáo thiên.

 Cha (hoặc mẹ) hỡi có thiêng!Từ nay phách định hồn yên!

Cẩn cáo!

Bài 2:

Trời cao thẳm, bao tầng mây bạc, dời sao Nam cực, biết về chốn nao?

Đất mịt mù, vạn dặm non xanh, mờ chốn Giao trìm nhìn chẳng tỏ.

Ngùi than cơ tạo, khéo đo lường;

Thương xót lòng đơn, thêm ái mộ.

Ôi! Thương ôi! Nghĩa nặng chưa tròn;

Ơn sau dám phụ.

Mối tóc tơ, chưa chút báo đền;

Lòng sầu não, càng thêm gắn bó.

Thể phách đã sang cõi Phật, mả mồ đã đắp cồn cao;

Linh hồn dầu ở cảnh Tiên, ân trạch xin soi chốn cũ.

Thảm thay! Mơ màng gặp gỡ, nhưng e không;

Xót nhẽ! Sụt sùi khóc than, ngăn cũng khó

Rày nhân! Lễ thành phần vừa xong;

Lễ hồi linh bay tỏ.

Tưởng thiên kinh chua xót tấm lòng;

Nghĩa địa nghĩa dễ đền tất cỏ.

Những ước, sớm hôm phụng dưỡng, áo Thái Bán dành để lúc thừa hoan;

Nào ngờ, cách trở âm dương, gối cỏ nệm đã kề bên giấc ngủ.

Cảnh vắng vì người; Mây bay vì gió.

Cảm nghĩa, non cao, biển rộng, băn khoăn trong dạ chạnh bồi hồi;

Xót tình khóc sớm, kêu mai, bối rối tấc lòng thêm vò võ.

Ô! Thương ôi!

Các thẻ liên quan: gia, thờ cúng tổ tiền, Văn cúng lễ